Thiền định là kéo dài ra mỗi phút giây của hiện tại để hưởng được sự an nhiên tự tại giữa những phong ba bão táp của cuộc đời .
Trước khi vận dụng đến “khả năng tin tưởng“ của tâm linh, chúng ta hãy thử dùng con mắt khoa học để khảo sát về hiện tượng tương quan giữa Cơ thể (Body) và Ý tưởng (Mind) qua các chứng bịnh. (Trong phạm vi bài này chỉ xin bàn tới sự liên quan giữa Stress, các căn bịnh gây ra bởi Stress và ứng dụng của Thiền – Meditation – trong đời sống hàng ngày).
2) Sự liên quan giữa Stress và Bịnh :

Tất cả chúng ta đều biết Stress gây ra rất nhiều bịnh. Cái danh mục của những căn bịnh thời đại đó càng ngày càng dài ra tưởng như không bao giờ hết. Cái Stress cao độ (intense) và kéo dài (prolonged) làm yếu đi khả năng đề kháng của cơ thể (immunity defense), làm mệt mỏi trái tim, làm hư hoại những tế bào của não bộ (memory’s brain cells), làm tăng mỡ đọng ở eo và mông (một trong những nguy cơ của nghẽn tim, cơ tim (infarctus) …), ung thư và tiểu đường. Stress cũng dự phần lớn vào những bịnh thoái hoá như thoái hóa khớp xương), những bịnh tâm thần – trầm cảm, và góp phần làm cho các tế bào mau già. Các cơ cấu giữa Stress và Disease chỉ mới được hiểu khá tường tận từ khoảng đầu thập niên này (vào khoảng năm 1990, những bài học về Stress còn nằm trong phần Tâm thần mà không phải là phần Diagnosis – bịnh lâm sàng)
Khi não bộ đánh hơi được một sự nguy hiểm, một tín hiệu được báo ngay cho:
– Adrenaline (epinephrine) và
– Glucocorticoids & cortisol.
– Nor-epinephrine
Các loại hormones này là những chất hóa học cực mạnh, có tác dụng làm cho : **
– Các giác quan nhạy bén hơn, các cơ bắp (muscle) săn chắc lên, giảm thiểu khả năng tiêu hoá (tác dụng của nor–epinephirine)
– Tim đập nhanh hơn, phổi hô hấp nhanh hơn, chuẩn bị đưa oxygen tới các tế bào (tác dụng của epinephrine)
– Độ đường tăng trong máu để cung cấp nhiệt lượng cần thiết (cortisol ).
Nói tóm lại cơ thể chúng ta đang ở trong tư thế sẵn sàng tác chiến hay …chạy trốn. Một khi Stress đã qua đi, (như trong ví dụ này, con sư tử đã đi …chỗ khác chơi) thì các hormones trở về trạng thái cũ.
2. Giảm khả năng đề kháng của cơ thể (immunity systeme), đưa đến ung thư, bịnh nhiễm trùng (infectious disease)….
3. Mất calcium trong xương, gây ra osteoporosis ở phụ nữ lúc mãn king (menopausis).
4. Làm tăng mỡ đọng ở eo và mông – bệnh tin mạch (heart disease).
5. Tiểu đường, mất trí nhớ …
6. Cái danh mục của những tác hại vì Stress còn rất là dài, đó là chưa kể đến những căn bịnh thần kinh như trầm cảm, parkinson, disease, mất trí nhớ, tai biến mạch máu não, nội xuất huyết v.v… và v.v…
Theo bác sĩ Andrew Weil (University of Arizona) thì cách điều hoà hơi thở là cách thức hữu hiệu nhất để chống lại sự âu lo (anxiety) và Stress, và ngay đối với cả những thể loại nặng nhất của bịnh khủng hoảng thần kinh (panic disorder) Vì khi bạn chú tâm vào hơi thở, và thở sâu, chậm, yên lặng và đều đặn thì bạn không thể nào … stress, hay lo âu được. Bởi lẽ rất dễ hiểu là cơ thể bạn không thể nào cùng một lúc làm được những việc trái ngược nhau. Như chúng ta biết, ngược lại với Stress, sự điều hoà hơi thở sẽ làm cho tim đập chậm, giảm huyết áp, làm an tĩnh hệ thần kinh. Khi não bộ không nhận được tín hiệu nguy cơ nữa thì cơ thể trở lại với trạng thái điều hoà, các bộ phận điều tiết những Stress hormone không còn được kích thích cũng sẽ trở về trạng thái bình thường, và cơ thể bạn không nằm trong trạng thái chuẩn bị ứng chiến như ta đã thấy ở trên. Và như thế, bạn vừa…. khóa lại (shut down) những tác hại của Stress.
Theo Daniel Goleman, tác giả của Destructive Emotion thì: “Những cuộc khảo sát trong vòng 30 năm qua đã cho chúng ta thấy Thiền có tác dụng như một loại thuốc giải độc tuyệt vời (antidote) của Stress. Các bảc sĩ y khoa hiện nay, càng ngày càng không ngần ngại dùng Thiền như một phương pháp bổ túc trị liệu cho những căn bệnh mà khoa học tưởng như phải bó tay như bịnh tim mạch, Aids, Ung thư, các chứng bịnh kéo dài (chronique ).
Một tù nhân chính trị của Canada, bị giam ở bago Bantay prison Philippines, ông Horacio Morales, liên tục bị tra khảo dã man bằng choc electrique. Thân thể ông cứ 5 phút lai co giật một cách dữ dội. Trong cái tận cùng của sự khổ đau thân xác đó, ông đã đuợc Soeur Elaines hướng dẫn thiền quán. Sau này, chính ông đã viết trong hồi ký : “Tôi không còn bị giam giữ bởi 4 bức tuờng sắt. Qua cánh cửa sổ của nhà giam tôi thấy mình hòa nhập làm một với thế giới bên ngoài ung dung tự tại”. Ngày 04-12-2001 bà được chính quyền Canadatrao tặng giải thưởng cao quí nhất : Order of Canada.
Qua những điều trên, chúng ta hẵn thấy những ứng dụng của Thiền Quán trên đời sống hàng ngày là có thực, là không thể chối cãi. Thế nhưng …Cái gì đã thật sự xảy ra trong chúng ta, khi chúng ta ngồi tĩnh tọa, hoàn toàn chú tâm vào hơi thở, 1 câu nói, 1 hình ảnh hay 1 công án? Nói tóm lại, cái gì đã thay đổi trong cơ thể (Body) và ý tuởng (brain) của chúng ta? Với những máy móc hiện đại ngày nay, liệu chúng ta có soi thủng được cái bí mật của sự Thiền Quán?
6) Những nghiên cứu mới về Thiền

Năm 1967 – tiến sĩ Herbert Benson, giáo sư y khoa ở Harvard, làm một cuộc khảo sát Điện não đồ trên 36 người ngồi thiền. Ông nhận thấy cơ thể con người khi ngồi thiền :
– Dùng 17% ít hơn Oxygène.
– Làm giảm nhịp tim mạch 3 nhịp mỗi phút.
– Não bộ sản xuất nhiều hơn làn sóng theta (theta ways) – Giai đoạn cực kỳ thư giãn truớc khi đi vào giấc ngủ, khi ý tưởng cực kỳ linh họat và sống động và tuôn chảy như thoát khỏi mọi ràng buộc và suy xét (The ideation that can take place during the theta state is often free flow and occurs without censorship or guilt. It is typically a very positive mental state).
– Não bộ phát ra nhiều làn sóng theta hơn là nhóm đọc truyện.
– Họat động của phần lobe frontal của não bộ (hình) (chỗ ghi nhận và phân tách những cảm thụ (sensory information) bị ngừng trệ.
– Cùng lúc hoạt động của lobe parietal (hình) cũng giãm thiểu. Lobe parietal là phần não bộ nằm gần ngay trên đỉnh đầu, nơi ghi nhận những tín hiệu về không gian và thời gian) Sự giảm thiểu những họat động của phần não bộ này cho chúng ta cái cảm giác không bị ràng buộc và hạn chế bởi không gian và thời gian. Cái cảm giác hòa đồng – at one – với vũ trụ.
Và với những kỹ thuật tân tiến hiện nay, với máy scanner hiện đại có thể cho chúng ta thấy những hình ảnh rất rõ ràng của não bộ (brain imaging).
Năm 1997, một nhóm Bác sĩ chuyên khoa về óc (neurologist) ở University of Winconsins (Dr. Richard Davidson) làm một cuộc khám nghiệm não bộ bằng brain imaging của những thiền sư Phật giáo khi họ đang hành thiền. Những khám phá này là một buớc tiến vĩ đại trong công cuộc tìm hiểu những bí mật về thiền quán. Trái với những gì chúng ta tưởng tượng. Những danh từ như Vắng lặng, Rỗng không, Tĩnh lặng …thường đi đôi với Thiền cho chúng ta cái cảm tưởng là khi hành thiền, muốn đạt đến trạng thái … không tạp niệm, thì có lẽ những họat động của não bộ phải được giảm thiểu đến mức tối đa. Nhưng trái với những gì ta dự đoán, những hình ảnh trong cuộc nghiên cứu của Dr. Davidson cho chúng ta thấy, khi hành thiền :
– Não bộ ngăn chận những tín hiệu đến phần parietal lobe (Thùy não đỉnh)
– Những họat động của prefontal cortex (phần nằm ngay trước trán) được chuyển từ bán não phải qua bán não trái.7) Đây là một khám phá rất lý thú.
Prefrontal cortex là vùng não bộ chuyên cấu tạo, hình thành những ý tuởng và ngôn ngữ, cùng điều hòa những tình cảm yêu ghét giận hờn của con nguời. (planning and production of thoughts, language, emotional expression, and actions). Cũng theo Davidsons, trong The sciences of emotion, vùng prefrontal cortex chiếm một vị trí quan trọng trong sự điều tiết (modulation) tình cảm con người. Chúng ta ai cũng biết những người bị chấn thương sọ não thường có những thay đổi tính tình tùy theo vùng bị chấn thương. Những người bị chấn thương bên bán não trái, đương nhiên sẽ chịu sự điều hành của bán cầu phải, thường là những người được gắn kết với loại người bi quan (negative mood), họ thường bị trầm cảm, hay khóc lóc, lo âu, chán nãn … [Có thể đây là kết quả quan sát của người ngoài cuộc. Nên đọc Tuệ giác và sự phục hồi sau tai biến mạch máu não* (My stroke of insight) của TS Jill Bolte Taylor, nhất là 2 chương 6 và 7, ta sẽ có kết quả khác về chức năng của não thùy phải – LN] Trái lại những người bị thương phía bên phải, và chịu sự điều hành của bán cầu trái lại là những người có tư tưởng lạc quan, hăng hái, nhiệt tình.
Sau khi dùng FMRI (functional magnetic resonance) để phân loại. Những người với sự hoạt động của vùng não bộ này thiên về phía bán cầu phải (right prefrontal oriented) thường là những người có tính cách bi quan, hay nhìn sự việc trên khía cạnh Xấu, là loại người (pessimist) yếm thế và dễ chán nãn, khi được hỏi dùng những tính từ để tả tâm trạng mình, họ thường dùng những từ như: sợ hãi, lo âu, căng thẳng nervous = bồn chồn, distress = cùng khốn…… Ngược lại những người thiên về bên trái (left oriented) lại dùng những tính từ như: mạnh mẽ, hăng hái, tỉnh táo, hãnh diện, vui vẻ, exited (thanh thoát )…..

Những nguyên do của stress vẫn còn đó, (vì đó là những gì ta không thể nào tránh khỏi trong đời sống) ông chủ vẫn khó tánh, bà vợ/ông chồng vẫn hay cằn nhằn …Nhưng đối với một người tu tập thiền quán, sự cảm nhận của họ đã đổi khác. Thay vì Đánh trả hay Chạy trốn, hay …Chịu trận …họ biết cách Chấp nhận và tìm thấy được Hạnh phúc ngay trong cái gọi là bể khổ này đây.










Nội dung cơ bản của Thiền định Phật giáo gồm có Thiền chỉ và Thiền quán.
Thiền chỉ: tiếng Phạn là Samatha (Pàli: Samatha). Chỉ là dừng lại. Tịnh chỉ là dừng lại sự tán loạn, sự quên lãng, vọng niệm, chấm dứt sự đuổi bắt một đối tượng nào đó. Thiền chỉ là trạng thái tâm chuyên chú vào một cảnh, một đối tượng, khiến cho mọi vọng tưởng đều ngưng bặt, là cách tập trung tâm ý vào một pháp và không để bị chi phối bởi bất cứ một yếu tố nào khác, cả chủ quan lẫn khách quan… Như là nhận diện sự có mặt của hơi thở. Khi thở vào biết mình thở vào, thở ra biết mình thở ra, mình tiếp xúc với hơi thở, sống với hơi thở, trở về làm một với hơi thở. Khi đó mình cảm thấy được nuôi dưỡng, được trị liệu, làm chủ thân tâm và bắt đầu cảm thấy thoải mái, thanh tịnh, an lạc, không còn bị lo âu và tham muốn lung lạc, thống trị.
Thiền quán: hay thiền Minh sát, tiếng Phạn là Vipasyana (Pàli: Vipassana). Vipasyana có nghĩa là thấy mọi sự vật đúng như bản chất của chúng. Quán là xem xét thực tướng của mọi sự vật bằng ánh sáng tuệ giác phát sinh từ tâm. Thiền quán là tĩnh tâm tư duy, quán chiếu chân lý, là ý thức một cách rõ ràng những gì đang xảy ra trong bốn lãnh vực thân, thọ, tâm và pháp (Tứ niệm xứ).
http://www.phattuvietnam.net/nghiencuu/thien-hoc/1112-thi%E1%BB%81n-ch%E1%BB%89,-thi%E1%BB%81n-qu%C3%A1n.html