Monthly Archives: Tháng Một 2015

SÔNG CÔN KÝ ỨC THƯƠNG HỒ

 
100_4919 
 Bến Trường Trầu
thuyền neo căng đợi gió?
nơi giao thương mòn con nước Tây Sơn
đường vận chuyển nậu nguồn lâm thổ sản*
cửa Đề Gi lồng lộng bóng trăng soi…
 
nước sông Côn
xanh trong mùa hẹn ước
ký ức một thời, muối đọng chợ Phú Phong
người Bình Khê nặng tình chung Bàu Đá
gùi măng le hong mùi khói Tây Nguyên
 
mắt trong mắt
chòng chành nồng lá sóng
thuyền ơi thuyền, say gió rượu vò duyên
hàng hóa ven sông đổ tràn về các Cửa**
đan tiếng cười rộn rã nhả lời yêu
 
 dân thương hồ…
bạc mưa, nắng bão giông!
nhớ mùa lũ…
ngược xuôi giữa đôi bờ xanh tơ lụa
thương  côn  kiếm so tài***
xông bến vắng chiều buông
êm hơi thở thơm đêm,
đẫm tận nguồn hương vị biển
nghe bồi hồi ai cảm gợi xa xôi
 
 đây, Vijaya!
 sông Côn cuộn mình ru vũ điệu Apsara****
 đây, Chà Bàn!
 thành hoa lệ xứ đền, tháp Champa
 đây, Thị Nại!
 cảng đường sông – nửa kỷ nguyên khơi dòng lịch sử*****
dáng đoàn thuyền lướt sóng vượt trùng dương…
 
                                   
 Đã bao năm tiếng sông khô ủ rũ?
 văng vẳng âm Hời lũng, núi dội hồn thương
 đã bao đời giọng hò xa viễn xứ
 trải niềm đau ai tha thiết cố hương
 sông Côn cạn nước em buồn
 thuyền anh thấp thoáng cánh buồm buôn xa…
                                   
     *“Ai về nhắn với nậu nguồn
       Măng le chở xuống cá chuồn gửi lên”-Ca dao Bình Định
     **Các Cửa biển : Thị Nại, Đề Gi, Hội An, Cù Lao Chàm…
      ***Tuyệt kỹ võ học Tây Sơn -Bình Định
      ****Vương quốc Vijaya  lừng danh trong thế kỷ 10-15
      *****Thương cảng Thị Nại
 
        Sài Gòn 2012 

Nguyễn Ngọc Thơ

9 phản hồi

Filed under Nguyễn Ngọc Thơ, Thơ

Paris, ngày trở lại

                                                                                        Trương Văn Dân

   1.

Thời tiết Âu Châu vào tháng 5 rất đẹp và bầu trời của nước Ý thường được cho là “xanh nhất châu Âu”. Thế nhưng hôm chúng tôi về lại Milano thì trời mưa tầm tã và những ngày sau, rả rích. Màu trời xám xịt, u ám như giữa mùa thu. Mệt và buồn, hai ngày đầu tôi chỉ nằm nhà, và chỉ ra ngoài khi thật cần thiết.

Cũng như mọi lần, mỗi khi về lại Ý, việc đầu tiên của chúng tôi là đến nghĩa trang Lambrate để thăm mộ của mẹ Elena. Gọi là “mộ” nhưng thực ta chỉ là một trong rất nhiều chiếc hộc nhỏ đựng tro của bà hoả thiêu hơn mười năm trước.

Buổi sáng đó không mưa nhưng bầu trời vẫn còn u ám. Gió se se lạnh. Elena cẩn thận lau bụi trước khung ảnh của mẹ nàng rồi thắp một nén nhang. Tiếp tục đọc

4 phản hồi

Filed under Hồi ký, Trương Văn Dân

NHỮNG NGÀY NÀY


thumb_flex-1349709241703623_file_zpsd5170e43
Những ngày này chợt thèm nghe
Bát theo câu lục em vê… tình về!
Ngoại ô lặng lẽ tư bề
Chỉ nghe nhịp đập đam mê tim mình

Những ngày này cách xa em
Vào đêm nguyệt bạch lại thèm áo xanh
Môi cười mươn mướt trâm anh
Ngày sau cũng rứa, mô đành quên nhau?

Nghiệp duyên chưa rã rời đâu
Vô thường tất hiểu, bể dâu tất rành…
Em về nhổ tóc riêng anh
Dú đi sợi bạc, long lanh sợi buồn…

Những ngày này bọc nhớ thương
Anh nung nấu mộng cho tường tận em
Xuân này là xuân đầu tiên
Anh không ngược nắng nên viên mãn lòng…
(Saigon, 01/2015)
TRẦN DZẠ LỮ

10 phản hồi

Filed under Thơ, Trần Dzạ Lữ

Phố núi trong anh trong em

DaQuy08
(Tng các em hoa hu đến t min tây nguyên)
 
Phố núi, phố núi  thật diệu kỳ
Ai về ai nhớ những mê ly…
Em về nhát nhớ giấc mơ đẹp
Ta với người như cánh chim si…
Ta với người như cánh chim si bay trong cỡi mộng
Lãng đãng làm sao những chiều sương mù
tiếng đàn t’rưng không sầu muộn
Mà là thánh thoát bản tình ca, phố núi đẹp,phố núi pleiKu…
Trong đêm hội diễn anh nhủ em  không là cô bé
Mà nàng tiên  vuợt ngục cuả mây trời…
Em  cho anh rạng ngời cuả nụ cười
Và nước mắt em  hơn ngọc bích ,hơn nước biển hồ khơi…
Ngàn năm chắc nhớ mãi một lời yêu  em!
Như em đã từng bên cạnh anh
Phố núi sương mù đá dốc cheo leo
Hoa dạ qùi như muốn ngưng nở đi theo 
Nhìn anh nâng váy em bước xuống lưng đèo…
Và đôi ta thì thầm hơi thở  …
Phố nuí pleiku thật diệu kỳ
Và có th nói nhng đêm lạnh nht 
Là nh
ng đêm nng ấm nht 
B
i mt vòng eo….
Bi mt ánh mt nheo …
 
TT.Hiếu Thảo

66 phản hồi

Filed under Thơ, Trần Thị Hiếu Thảo

Ta về núi ngự…

121001102440-987-231
 
Ta v núi  vi mt giai nhân
Để quên hết đi chuyn hng trn
Quá kh trôi qua là vô nghiã
Và ta quên đi nhng th ta cn….?/
**
Ta v
  núi ng cùng môt giai nhân
 Ban mai sương  m đang tan dn
Phi lao  nhón  mình trưc khung ca
Vn không bng nàng  mt bưc chân…
 **
Ta v núi  ng mt giai nhân
Chiu xa tiếng nhạc tht đưa dn
Ta gọi dt nàng lên ngôi hoàng hu
 Dù phải v tạ li vi song thân…
 **
Ta v núi ng mt giai nhân
                    Nim đau đã lụy sưả chỉnh cân                     
Vi nàng mênh mông là tuyt trác
 Trăng lên ri…ta với nàng… khúc tri ân?
 
TT.Hiếu Thảo
 

21 phản hồi

Filed under Thơ, Trần Thị Hiếu Thảo

BAY VÒNG

366khoi-thuoc_1
Bay vòng khói thuốc từ anh
Cớ sao em lại lanh canh nỗi buồn?
Đứng bên cột điện chon von
Có nghe lạnh một chiều buông… hững hờ?
Bay vòng khói thuốc trong thơ
Mà sao luống cuống nhớ bờ môi em?
Chưa ngày đã tạt sang đêm
Anh chằm hăm đợi… nên nghiêng ngã tình!
Trần Dzạ Lữ.

16 phản hồi

Filed under Thơ, Trần Dzạ Lữ

LẶNG LẼ TÌNH ĐẦU

oan tu xi

Năm ấy, nhỏ lên 10, anh 12…
-Oẳn tù tì, ra cái gì, ra cái này…
Nhỏ nắm chặt bàn tay bé xíu của mình, tròn xoe mắt nhìn tay anh xòe rộng 5 ngón còn lấm lem đất cát…
-Không chịu, anh ăn gian. Anh tính giơ búa rồi xòe tay ra…ăn gian…huhu…không chịu…
Anh hiền lành, nhỏ nhẹ:
Thôi được rồi, anh thua…
Nhỏ hí hửng cúi xuống, cà nhẹ viên gạch vào đầu cây tre cắm sẵn, đã được cột thun giăng 2 bên, cọng cỏ màn trầu từ từ tiến lên, hất rơi cọng cỏ phía anh xuống đất trong ánh mắt đắc thắng của nhỏ… Tiếp tục đọc

28 phản hồi

Filed under Tùy bút, Truyện, Tương Giang

TÌNH THƠ HAI MƯƠI

yeu-20
Mây và gió quyện nhau
Đưa tôi về xứ khác
Có hoa lá xanh màu
Nồng mùi hương ngan ngát
 
Tiếng hát quyện cung đàn
Một thời yêu lang thang
Cỏi tình chưa viên mãn
Trong trần gian điêu mang
Mơ hoang và mộng mị
Cuốn lốc tuổi hai mươi
Yêu nào cần suy nghỉ
Chỉ thấy mỗi nụ cười…
Em thiên thần ngày ấy
Đảo lộn cả trời mây
Tôi về tìm quanh đây
Cội nguồn nào còn đây?
Mây. Gió. Cỏ. Hoa. Em.
Trời xưa và tiếng hát
Tôi với đêm say mèm
Cây đàn nào vỡ nát?
Thiên Di Phạm Văn Tòng

22 phản hồi

Filed under Thiên Di-Phạm Văn Tòng, Thơ

MONG ĐẾN NGÀY “VỀ,,,”!

tien em
Em đi họ cưới miền Đông
Còn anh nhà trống vườn không một mình
Sài Gòn hoa lệ phồn vinh
Năm lần bảy lượt chỉ mình em đi
Anh hỏi mình số con gì?
Mà sao cứ mãi ở lì một nơi!
Trâu cày có lúc nghỉ ngơi
Còn anh cày mãi không rời một giây!
Anh mong mau đến một ngày
Về hưu sẽ tới, quẳng cày mỏi vai
Thoát đi cái nợ trần ai
Cùng em du lịch nơi này nơi kia
Khoác tay em dạo phố khuya
Tha hồ mua sắm món kia món này
Chiều chiều bè bạn sum vầy
Ly bia chén rượu chưa say không về!
Sao ngày ấy lâu lê thê?
Hai năm lẻ nữa mỏi mề tấm thân!
Sao bố mẹ không nghĩ gần?
Lo xa cho lắm cưa phần sừng dê
Em đi nhớ lấy câu thề
Keo sơn gắn bó chẳng nề cách xa
Anh ráng gánh hết việc nhà
Em về đã có bó hoa chúc mừng!
Trầm Tưởng- NCM

33 phản hồi

Filed under Thơ, Trầm Tưởng- NCM

PHÒNG SỐ 3

(Truyện ngắn trong tập truyện MỘT PHÚT TỰ DO của Elena Pucillo Truong, NXB Văn hóa Văn nghệ)

 

 

 

phong tro

                                             Tôi phục vụ trong khách sạn cho thuê giờ,

                                             Mang cà phê cho những khách vào yêu nhau,

                                             Đi lên, đi xuống, cặp nào cũng như cặp nấy,

                                             Nhưng dù mang kính, tôi cũng chẳng nhìn thấy ai

                                                                  (Luigi Tenco- Nhạc sĩ Ý)

 

Chán! Hôm nào cũng thế! Ngày và đêm cũng vẫn là bấy nhiêu khuôn mặt và sự tởm lợm quen thuộc.

Rất nhiều năm tôi đã sống cuộc đời này, như con chuột nằm trong bẩy. Không đủ tiền để đổi đời nên hằng ngày tôi đều phải mang lên người chiếc mặt nạ lạnh lùng. Thực hiện công việc bằng những cử chỉ nhàm chán: giao chìa khoá, thu tiền… rồi nhìn hai tấm lưng bước lên cầu thang để vào phòng. Tôi chẳng cần phải dắt, họ quá biết đường lên…

Hy vọng nhận được tiền boa nên thời gian đầu tôi thường hỏi là có cần mang gì lên phòng để ăn hay uống… lúc đó tôi đâu biết là họ có quan tâm gì đến chuyện này đâu… họ còn không muốn mất thì giờ cho việc cởi quần áo nữa là…

Tất cả nhanh chóng, cấp tốc và lạnh lùng… như dòng đời bên ngoài bốn bức tường nơi đây, đáng lý phải là một khách sạn đường hoàng, thì nó chỉ là một cái hang tối tăm và dơ bẩn. Nhưng đây là căn nhà của tôi, bởi vì tôi không có một căn nhà nào khác. Tôi từng muốn trang hoàng căn nhà thật đẹp đẽ, chan hoà ánh sáng, thơm tho, sạch sẽ…nhưng vô ích.

          Có một lần tôi đã nghĩ đến chuyện bỏ đi, đoạn tuyệt với cái thế giới bẩn thỉu luôn hiện trước mắt mình, vì đó đâu có phải là đời. Đúng thế… nhưng nghĩ lại, chạy, thì chạy về đâu? Và thế là tôi đành chôn mọi ước muốn đổi đời trong cùng tận đáy lòng rồi chấp nhận tất cả, bằng sự lạnh nhạt và khổ tâm.

Chỉ có một điều duy nhất tôi không thể làm mà không cảm thấy đau đớn, đó là việc nhìn thấy chìa khoá căn phòng số 3. Như thể với tôi, căn phòng ấy chưa từng hiện hữu.

Một ánh chớp. Những hình ảnh xưa tái hiện…

Tôi đứng như ngây người nhìn hai thanh niên trong buổi sáng có mưa và bầu trời xám xịt. Hai khuôn mặt còn rất trẻ ngập ngừng bước vào, thật khẽ khàng để không gây tiếng động. Tôi thấy thật khó quên mái tóc dài của cô gái và ánh mắt như say của cậu con trai. Ngay tức khắc, điều đầu tiên tôi nghĩ trong đầu là mắng vào mặt họ:

– “Các cậu đến làm gì ở một nơi bẩn thỉu này? Các cậu hãy đi đi !”

Thế nhưng tôi câm họng. Thu tiền, tôi giao chìa khoá… đây là điều họ muốn và tôi đã làm theo. Rồi, không hiểu sao, ngay phút cuối, tôi bỗng thấy xấu hổ nếu khi mở cửa hai người trẻ ấy nhìn thấy sự bề bộn trong phòng.

Bước ra khỏi quầy lễ tân, tôi như giật phắt chiếc chìa khoá trong tay của cậu con trai.

-“Các cậu đợi đây, tôi đi xem phòng đã dọn dẹp chưa”

Sau câu nói, tôi chạy vội lên cầu thang, tay giữ chặt chiếc chìa khoá phòng số 3. Đây là căn phòng ít tởm nhất, có lẽ nhờ những tia sáng chiếu vào xuyên qua tấm màn trên cửa sổ. Duy có mùi ẩm thấp của căn phòng đóng kín là còn đọng lại dù tôi đã nhiều lần mở toang cửa sổ mà vẫn không thể nào làm bay đi hết.

Chỉ trong ít phút tôi đi thay hai áo gối, drap giường và chuẩn bị hai chiếc khăn sạch. Tôi không quên đặt hai chai nước suối lên chiếc bàn con.

-“Bây giờ các cậu có thể lên phòng…Tôi sẽ dẫn các cậu”

Lúc đó hai người đang đứng ôm nhau và sốt ruột đợi tôi. Họ nói nhỏ với nhau một điều gì đó rồi chàng trai ôm ngang eo cô gái, âu yếm dìu cô ta bước lên cầu thang. Tôi đi trước nhưng vẫn nghe tiếng chân của họ phía sau lưng. Nó như vẫn còn vang nhẹ trong đầu tôi. Tôi mở cửa.

– “ Phòng đã sẵn sàng…Xin mời”

Tôi gần như nghe được tiếng nấc trong cổ họng hai người. Tôi, có lẽ vì hổ thẹn, còn họ vì những gì đang thấy, có lẽ họ đã từng mơ ước về một nơi chốn khác để có thể yêu nhau.

-“ Xin cảm ơn ông về mọi chuyện !”

Cô gái nhìn tôi bằng đôi mắt mèo thật dễ thương và nói bằng một giọng ngọt ngào. Còn chàng trai thì chìa tay với một tờ giấy bạc, để gửi tiền boa.

-“ Cảm ơn cậu! Nhưng cậu cứ giữ đi. Chuyện nhỏ mà! “

Tôi khép cửa và quay đi, bỏ lại sau lưng nụ cười dễ thương của họ.

Bước trên mỗi bậc thang, tôi liên tục nghiền ngẫm.

-“Mình đã làm hết bổn phận. Còn trẻ thế, có lẽ đây là lần đầu của họ và bằng tất cả tình yêu trong máu thịt, họ đâu cần quan tâm đến căn phòng như thế nào.

Tuy vậy họ vẫn có thể đến một nơi khác, đường hoàng hơn chứ! Nhưng chắc gì họ có một căn nhà, một nơi yên tĩnh và tươm tất? Có lẽ họ không có đủ tiền… Nhưng trên một bãi cỏ vắng người cũng có thể được mà… À, mà mình điên thật! Có nhiều chuyện mà một người đàn ông nhạy cảm cần phải biết là bình tĩnh, có thời gian để cô gái tự nhiên, để âu yếm và yêu nhau, chứ đâu phải chỉ “có vậy” rồi thôi!

Mà thôi! Thật vô ích. Đây đâu phải chuyện của mình! Sao tự nhiên mình lại nghĩ ngợi lung tung thế!

Cơn mưa đến bất chợt, làm mịt mờ thành phố và tôi còn phải lăng xăng vì nước từ mái dột xuống tầng ba. Chỉ cần lấy chậu để hứng là xong, nhưng đã bao nhiêu lần rồi tôi phải chạy lên chạy xuống nhiều lần để đổ nước vì có khi mưa rất lớn, chẳng mấy chốc mà chậu đã đầy. Tôi nguyền rủa trận mưa.

Tôi không còn nhiều thời gian nữa. Buổi chiều và tối tôi hầu như không chợp được mắt. Người đến, kẻ đi… công việc nhàm chán, những khuôn mặt lãnh đạm thường ngày. Nhận tiền, giao chìa khoá cho cho họ, nhiều khi tôi chẳng cần nhìn vào mặt, có khi cùi chỏ vẫn còn đặt lên trên, mắt vẫn nhìn trang báo, tay kia chìa ra giao chìa khoá cho người ta.

Chỉ có buổi sáng là bình yên. Khách sạn yên tĩnh và tôi có đủ thời gian để kiểm tra phòng, đặt chai nước hay thay cục sà phòng trong phòng tắm… Trễ chút xíu thì ông chủ cũng đến để kiểm tiền rồi vội vã đi ngay.. Có thể là ông ta sẽ tiêu pha với người tình nào đó, dắt cô ta đi đến một bờ biển đẹp…vì chắc chắn là ông không bao giờ dẫn những bạn gái của mình đến nơi đây. Nhưng mặc xác ông ta, việc gì tôi phải bận tâm kia chứ? Tôi phải làm điều tối thiểu mà ông ta yêu cầu và ông ta chỉ cần biết có tiền khi ông đến.

Tôi bắt đầu từ tầng ba, đổ chậu nước bẩn cuối cùng rồi xuống tầng hai, tầng một để lau chùi và xếp gọn.

         Các bạn đừng hỏi tại sao, nhưng đến căn phòng số 3 tôi bỗng dưng gõ cửa. Dưới quầy lễ tân tôi không thấy chìa khoá phòng nhưng nhiều khách cũng thường bỏ quên chìa khoá trong phòng. Im lặng. Tôi có mang theo chìa khoá mở được tất cả các phòng nhưng chỉ khẽ đẩy tay nắm tôi thấy cửa không khóa nên bước vào.

Một tia nắng chiếu qua khung cửa sổ khép hờ làm căn phòng sáng mờ mờ. Những hoa nắng nhảy múa theo những luồng sáng băng ngang qua phòng.Tôi thoáng thấy hai hình người nằm bất động trên giường.

Định khép cửa để đi sang một phòng khác nhưng một ý nghĩ vụt loé lên trong óc tôi. Căn phòng quá im lặng.

Mở rộng cửa để lấy thêm ánh sáng từ hành lang.Tôi bước đến cạnh giường. Không một tiếng động. Không một tiếng nói.

Nhưng bây giờ thì tôi thấy rõ hai thân hình nằm ôm nhau, lạnh ngắt. Cô gái nằm tựa đầu vào ngực chàng trai, một bàn tay nắm chặt lề drap và mái tóc như những sợi tơ thả xoà trên mặt nệm. Một cánh tay của chàng trai buông thỏng xuống thành giường. Trên chiếc ghế đặt gần đó quần áo của hai người được xếp lại cẩn thận, trên thành ghế có treo cái túi xách của cô gái. Trên bàn đọc sách đêm, ngoài chai nước tôi còn thấy mấy ống thuốc ngủ. Trống trơn.

Linh hồn trong trắng của hai người trẻ đã giã từ thế giới này. Họ đã yêu nhau trong nơi chốn bẩn thỉu này trước khi cùng nhau đi tìm cái chết; hoà hợp bên nhau mãi mãi.

Tôi đứng trân người, liên tục nhủ thầm là không thể nào, không thể nào. “Không thể nào hai người trẻ lại có thể chết ở một nơi đáng tởm này” trong khi những giọt nước mắt chảy dài xuống má, lăn xuống cổ và thấm ướt trái tim. Hằn lên. Mãi mãi.

Tôi phục vụ trong khách sạn cho thuê giờ. Công việc mỗi ngày đều giống nhau. Vẫn những khuôn mặt đó. Thu tiền, giao chìa khoá.

Nhiều năm đã trôi qua thế nhưng không hiểu sao tôi không thích giao chìa khoá phòng số 3 cho ai cả.

                              Elena Pucillo Truong

Sài Gòn 5-1012

 

20 phản hồi

Filed under Elena Pucillo Truong, Truyện, Truyện Ngắn

SÔNG BIỂN VÀ NON CAO

Em hỏi chị yêu ba hay mẹ,
Chị trả lời, chị yêu cả hai,
Mẹ là biển rộng sông dài,
Ba là non cao thăm thẳm…
Mẹ là biển, mênh mông sâu đậm…
Đỡ đần con, qua những chặng gian nan,
“Cuộc cờ đời”, với những sóng gió ngổn ngang,
Con trẻ dại, khó phân bờ bến đổ,
Thế là mẹ – dang tay ra bảo hộ …
Đưa con về, biển cát êm đềm…
Dòng suối mẹ hiền, tuôn chảy mãi trong con,
Nghe ấm áp , thâm ân từ mẫu…
Ba dọc ngang, kiên cường phấn đấu,
Cả một đời, “lao nhọc” vì con,
Mồ hôi đổ, không “bào mòn” ý chí,
Ba mong các con, chăm chỉ học hành !
Cố làm sao, đạt chữ công danh  …
Cho ước nguyện của ba ,tròn như ý !
Mẹ và ba cùng nhau quyết chí …
Tay trong tay, liên kết dựng xây…
Nước sông sâu, vẫn ngày đêm tuôn chảy…
Mạch nuôi cây, sừng sững với đời…
Ba là non cao , trên đỉnh chơi vơi !
Tỏa bóng mát, ngàn đời “ôm lấy biển”…
Sông núi liền kề, chung chiến tuyến,
Con yêu sông biển, lẫn non cao…
Thương Mẹ Ba, con thật tự hào,
Là con của biển, của non cao mãi mãi…
          
Nguyệt Vân

15 phản hồi

Filed under Nguyet Van, Thơ

MA RỪNG

.MA RUNG
Tác giả: Nguyễn Đức Diêu.
.
Trời cuối năm lành lạnh.  Lão Cốm khơi đống than đỏ, mùi khô nướng thơm ngào ngạt.  Lão bẻ miếng khô thơm phức nhai rồi rót miếng nước trà gừng nóng làm một hớp.  Lão bỏ cái đầu cá xuống cho con Mực, con chó đen trung thành của Lão nhai khô rau ráu trong khi lão vỗ vỗ đầu nó nhè nhẹ.
Lão Cốm và con Mực, một người một vật, lặng im cùng âm thanh của rừng.  Tiếng côn trùng rả rích, đâu đó vang lên tiếng mang tát lẻ loi bên tiếng róc rách của con suối Tre âm thầm chảy.  Lão Cốm nghĩ gì ?  Tháng sau, giỗ bà ấy, mới đây sắp tròn năm rồi !  Ngày vợ chồng Lão từ bỏ cái xóm Ninh Thọ nghèo hèn mà lắm chuyện để đi vào đây, cũng đã hơn hai năm.
Trong một lần mãi mê tìm chai, lão đã đi lạc cả buổi và đến con suối nầy.  Giữa rừng già hoang vắng, tiếng suối róc rách êm êm làm lão thấy tâm hồn thật thoải mái.  Lão bỗng chợt có một quyết định : tại sao mình không vào ở hẳn nơi đây ?  Thế là Lão về bàn với vợ, tả cảnh rừng bên suối cho vợ lão nghe.  Vợ lão đồng ý, từ xưa giờ vợ lão có bao giờ khác ý lão đâu.  Ở nửa đồng nửa tỉnh làm gì !  Thân chạy loạn, cơ nghiệp, ruộng vườn gì cũng không.  Hai đứa con trai thì đều mất cả, một thằng theo giải phóng còn một thằng nghĩa quân.  Trong một đêm tiếng súng ầm ì, tới sáng ra, hai vợ chồng lão mang xác hai đứa con về chôn cùng ngày.  Anh em nằm kế nhau không hận thù nhau nữa nghe chưa !  Tiếng khấn của bà vợ lão nghe đăng đắng, mằn mặn.  Lão ngước nhìn lên cụm mây trắng xa xa, lẻ loi cuối chân trời…
Chưa kịp đi thì bà vợ lại bệnh.  Ra bệnh viện, bác sĩ bảo là bà bị viêm gan B, giờ gan đã bị xơ, không còn thuốc gì chữa được nữa, thời gian còn lại của bà sẽ không quá sáu tháng.  Lão thật buồn, biết làm gì bây giờ ?
–  Ông à, mình vô suối Tre ở đi ông.  Tôi muốn ở đó, có chết tôi cũng chịu chết ở đó.  Tôi chán ở đây quá rồi !
 Vậy là hai vợ chồng già dắt díu nhau vào ở ẩn giữa rừng, bên con suối Tre (do lão đặt tên vì hai bên bờ nhiều tre).  Hai người chấp nhận sống những ngày cuối dời cùng rừng, chết sẽ làm ma bảo vệ rừng.
Lão làm một cái nhà sàn để ở và chặt tre để làm một cái sa bắt cá.  Hàng ngày, lão tìm cây chó đẻ về nấu nước cho bà vợ uống.  Lão phát rẫy, chặt những lùm tre dọc theo suối để chuẩn bị mưa xuống trỉa lúa và bắp .  Không biết là nhờ tinh thần thoải mái vì sống giữa thiên nhiên, không còn phiền lụy hay là nhờ ăn cá và uống nước suối nấu với ba cái bụi chó đẻ mà bà Cốm lại thấy khỏe ra.  Cái hạn sáu tháng của mấy ông bác sĩ trôi qua từ lúc nào hai vợ chồng cũng quên bẵng.  Bây giờ bà đã có thể phụ ông làm chồi, hái bắp…Cuộc sống hai vợ chồng già thật êm đềm với tình yêu thiên nhiên.  Tuy lão cũng có thể bẩy thú để ăn hoặc bán nhưng lão không làm, lão muốn tôn trọng sự tự nhiên, ít nhất là trong khả năng của lão.  Hàng ngày, lão thích được nhìn thấy những chú sóc tới ăn những hạt bắp lão rải bên nhà.  Lúc đầu, chúng còn thập thò nhưng rồi chúng quen dần, chẳng còn sợ sệt chi nữa.
Nơi hai vợ chồng lão ở, cách biệt hẳn với làng xóm.  Nơi gần nhất có người ở cũng phải sáu bảy cây số.  Sáu bảy cây số đường rừng là một khoảng cách rất lớn, hầu như chẳng ai mò vào tới chỗ của vợ chồng lão.  Tuy ở rừng nhưng vợ chồng lão không thiếu lương thực.  Cá ăn không hết, làm khô để dành,  bắp lúa cũng đầy đủ.  Lão đã có hai công ruộng lúa cặp bờ suối.  Mùa mưa vợ chồng lão trỉa lúa rẫy tốt mịt mù.  Lão đốn cây đẽo cối và tự giã lúa để làm gạo, trở lại như mấy chục năm trước, lúc lão còn nhỏ.  Thỉnh thoảng, người ta lại thấy một ông lão với búi tóc dài mang mật ong ra chợ Bàu Cỏ đổi đường, muối…chẳng ai biết ông lão ở đâu ra cả !
Mỗi năm, hai ông bà đều về thăm mộ hai con ở một nghĩa trang nằm bên rìa Thị xã.  Nhưng năm nay, cảnh vật đã hoàn toàn đổi khác.  Nghĩa trang không còn nữa !  Thay vào đó là một công trường đang xây cất.  Hai người hỡi ôi, không tin vào mắt mình nữa.  Hỏi thăm những công nhân đang làm thì được biết là nghĩa trang đã được giải tỏa và những ngôi mộ vô chủ còn sót lại thì máy ủi đã san bằng tất cả.  Bà lão nghẹn ngào trong âm thầm “ Con chết rồi vẫn không yên ! “.  Ông lão ngậm ngùi “Đúng là cát bụi, tất cả rồi cũng về cát bụi ! “.
Sau chuyện đó, bà lão suy sụp hẳn.  Nhiều đêm bà trông thấy thằng Hai, thằng Ba về gọi Mẹ, “ Mẹ ơi, con lạnh lắm ! “.  Một đêm mưa, bà lão không dậy nữa, trên tay vẫn nắm chặt tấm hình duy nhất của hai con trai từ lúc nhỏ.
Ông chôn vợ sau cuối rẫy, trên triền đất hơi cao và xa con suối vài chục thước.  Ông cũng đắp hai nấm mộ cho hai con kế bên, dù bên dưới chỉ là tấm hình cắt đôi, bên trên có bia mộ bằng cây, khắc tên họ đầy đủ.  Ông lại làm sẵn một bia mộ với tên họ của mình, dựng kế bên mộ vợ.  “ Bà nghỉ với hai con nhé !  Rồi sau nầy tôi cũng nằm bên bà.  Cả nhà mình cũng sum họp thôi “.
Tuy buồn, nhưng ông vẫn sống.  Ông lão cho cuộc đời là tự nhiên, khắc thế.  Có sinh, có tử.  Đã sinh thì phải sống tự nhiên hợp với trời đất cho đến khi nào ra đi.  Chung quanh, vạn vật cũng như ta cả thôi !  Ông vẫn hàng ngày nhìn những chú sóc nhảy nhót với những hạt dẻ rừng hay ngắm những con két xanh đỏ thật đẹp trên cây bứa sau nhà.  Đi đâu thì đã có con Mực quấn quit bên mình.
Hôm nay ông Lão đi tìm mật ong rừng.  Trong rừng có nhiều loại ong cho mật như ong lỗ, ong mật…nhưng ông vẫn thích nhất là ong mật.  Tổ chúng thường lớn cả thước vuông như một tấm vải mền treo lủng lẳng trên cành cây.  Loài ong mật nầy khá hiền và sợ khói.  Ông chỉ việc leo lên với một cây đuốc chai ủ lá tươi, khói ra nhiều và ong sẽ bay hết.  Lấy ong, nhưng ông không đụng tới ong chúa và chẳng bao lâu sau thì chúng sẽ xây dựng lại tổ khác, ở một nơi khác.
Ông gặp một vài tổ nhưng còn khá nhỏ nên ông không đụng tới, ông tiếp tục đi về hướng Đông Bắc.  Rừng xanh muôn đời vẫn thế.  Tiếng chim hót lảnh lót đâu đó giữa những chùm phong lan trắng muốt trên cao.  Cây vên vên chúa đây rồi !  Đây là một cây vên vên rất lớn, đường kính phải cỡ hai mét, lớn nhất khu rừng mà ông từng gặp nên ông đặt tên nó như vậy.  Đi về hướng nầy, thì nó như một điểm để ông định hướng đi về các hướng khác.  Đi thêm một lát nữa thì ông đã thấy một tổ ong mật khá lớn treo lủng lẳng cách mặt đất khoảng năm thước.  Ông ngồi nghỉ hút điếu thuốc, ngày mai ông sẽ mang mật ra chợ đổi ít dầu, đường, muối.  Ông đã leo lên tới tổ ong với cây đuốc khói tuôn mịt mù bảo vệ ông, lũ ong bay tán loạn.  Bỗng ông nghe có tiếng rào rào là lạ, ông nhìn về phía trước mặt : một cây lớn đang lung lay theo chiều gió rồi ngã rào xuống.  Ông vội vàng gỡ tổ ong rồi tụt xuống, cho tất cả vào cái giỏ mây rồi cùng con Mực đi về hướng tiếng cây đổ lúc nãy.  Ông muốn biết ai đã vào đây hạ cây, để làm gì ?  Ông vỗ vỗ con Mực, ra hiệu cho nó im lặng.  Con Mực đã đánh hơi được người lạ nhưng nó hiểu ý chủ, chỉ hực hực lên nho nhỏ.  Núp sau một lùm cây, ông quan sát : một nhóm người lố nhố bên cây sao vừa mới hạ.  Rừng nầy không có danh mộc như các loại cẩm lai, giáng hương…nhưng lại có nhiều nhất là vên vên rồi đến sao, chò, gõ, dầu…Sao là loại cây gỗ để đóng ghe tàu rất tốt, thứ đến là chò. Gõ (phần lõi) thì thường được làm cột nhà, làm ván nằm…đến khi lên nước trông bóng luỡng rất đẹp.  Đúng ra, ngày xưa cũng có Cẩm lai mà ở đây gọi là Căm xe( vì được dùng làm căm bánh xe bò, rất chắc và đẹp ), nhưng đã bị khai thác hết từ hồi nào không biết.  Ông nghe tiếng được tiếng mất “ Hạ thêm cho khá đi, ngày mai xe bò vô đưa ra “, một người đàn ông đứng chỉ chỏ nói với mấy người kia.  Vậy là nhóm người nầy tới khai thác cây rồi !  Rừng nầy là rừng cấm, họ chỉ có thể khai thác lậu mà thôi.  Lại có tiếng nói “ Có khi nào kiểm lâm vô đây không đó ông ?” . “ Không có đâu mầy, tao bao hết rồi.  Bảo đảm với tụi bây luôn đó, có gì tao chịu cho.  Tao đâu có điên mà đổ công , đổ của vô không không hả ? “.  Ông lão tự nhiên buồn rời rợi.  Những cây rừng xanh tươi từ hàng trăm năm rồi sẽ bị đốn ngã, rừng xanh sẽ chảy máu.  Cánh rừng mấy năm qua mà ông yêu quý như khu vườn nhà đang bị xâm hại bởi nhóm người tham lợi.  Trời đất, thiên nhiên đã cho ta rừng, cây xanh và muôn chim thú, là nơi cân bằng đời sống vạn vật, sao con người lại nỡ phá đi !
Tốp thợ rừng gồm sáu người, hầu hết còn trẻ chỉ có một người trưởng toán khoảng gần năm mươi.  Họ dựng một cái lán nhỏ gần trảng để ở.  Nơi đó, họ có thể đào một cái giếng chỉ sâu khoảng một thước để lấy nước dùng.  Rừng ở đây có những trảng thông với nhau.  Hết rừng rồi đến trảng, hết trảng lại đến rừng.  Trảng là vùng đất thấp hơn rừng, mùa khô chỉ có cỏ mọc, mùa nước thì ngập trông như hồ nước lớn.  Đầu mùa mưa, cá dưới suối đi ngược lên trảng để đẻ nên trảng thường có rất nhiều cá.  Cuối mùa khô thì tụ lại những chỗ thấp nhất gọi là bàu và người dân hay tát bàu bắt cá vào thời gian này.  Đó là một đặc điểm của rừng miền Nam và cũng từ đó mà miền Nam có nhiều địa danh là Trảng hoặc Bàu như Trảng Bàng, Trảng Lớn, Trảng Bom, Bàu Đồn, Bàu Cá…
Tốp thợ rừng mỗi sáng dậy nấu cơm rồi mang theo ăn trưa.  Những thợ rừng tìm những cây sao, gõ hay vên vên lớn nhất để hạ.  Sau đó, họ lại cắt thành từng khúc dài khoảng sáu thước cho xe bò vào di chuyển ra bìa rừng.  Từ đó, những khúc gỗ sẽ được xe be đến mang đi vào giấc nửa đêm.
Ông Huyên, trưởng toán – cũng là chủ cùng với người em chạy vòng ngoài- là một thợ rừng lâu năm.  Phải nói ông là ông thầy rừng.  Thử hỏi bất cứ cây nào, sợi dây nào trong rừng ông cũng biết tên và cả công dụng nữa.  Như dây “Chiều”, dây này rất nhám, nếu đi sơ ý, bị cạ vào người thì da sẽ bị trầy như chà giấy nhám, nhưng nếu cần nước thì có thể chặt ngang dây, nước trong dây sẽ chảy ra rất nhiều và uống được.  Hay dây “Ký- ninh”, lõi màu vàng đậm, nấu nước uống để trị bệnh sốt rét rất công hiệu.  Chính ông đi tìm cây và cắt cử thợ để hạ.  Đối với thợ rừng thì hạ cây không có gì là khó, nhưng họ sợ nhất là gió và cây bị dây leo quấn trên ngọn.  Khi hạ cây, nếu có gió mạnh thì cây có thể bị thay đổi chiều ngã đã được định trước và gây nguy hiểm cho người thợ.  Nhưng nguy hiểm nhất vẫn là dây leo.  Khi cây bị dây leo quấn trên ngọn, người thợ không thể biết được.  Khi cây đã được cưa hay đốn ngã, cây đứt gốc nhưng không ngã được vì dây leo giựt ngang trên đầu làm cho cây bật lên và tạt ngang rất nguy hiểm, nhiều người đã mất mạng vì chuyện nầy.
Đám thợ rừng làm tới xế chiều khoảng bốn giờ thì trở về lán.  Dụng cụ, cưa búa họ để lại chỗ làm vì chẳng ai vào đây mà sợ mất.  Hôm nay ông Huyên dự tính cho hạ một cây sao và một cây gõ mật mà ông đã tìm được từ hai ngày trước.
Thằng Dênh và Năm Đẩu đang hạ cây sao lớn.  Cây này đường kính cỡ bảy tấc, một người ôm không hết.  Cây sao nầy ở đây thì thấy tầm thường nhưng về được miền dưới rồi thì phải biết, chừng vài cây thì đã đóng được chiếc tàu biển giá trị.
Hai người đã định hướng cho cây ngã (theo tàng cây) và đã mở miệng theo hướng đó.  Chỉ còn cưa bên lưng, cao hơn bên miệng khoảng một gang tay, vô chừng nửa cây nữa là cây sẽ ngã đúng hướng.  Hai người đã cưa vào được gần nửa cây thì ”rắc“một tiếng, lưỡi cưa bỗng gãy hai.
          Lạ há !  Lưỡi cưa mới mà sao gãy, đồ dỏm chắc !   –  Năm Đẩu càu nhàu, rồi tiếp:
          Phải xài búa rồi, mệt ghê !
Búa hoặc rìu cũng có thể hạ cây được nhưng phải ra sức nhiều hơn là cưa, nhất là những cây lớn quá thì khó mà hạ bằng búa nổi.
Cuối cùng thì hai người cũng hạ được cây sao xuống khi trời đã quá trưa.  Như vậy thì hôm nay sẽ không kịp tỉa cành, cắt khúc như đã định rồi.
Hai cặp thợ, bốn người nhưng chỉ còn một cây cưa, cặp làm thì cặp nghỉ vì cắt khúc thì bắt buộc phải dùng cưa rồi.
Khuya hôm đó, chủ Thoan cho xe bò vào nhưng chỉ chuyển được một cây ra bìa rừng.  Xe be thì đã hẹn trước nên cuối cùng cũng phải chấp nhận cho chở đi dù không đủ chuyến.  Như vậy là chuyến nầy lỗ vốn, vì phí chuyên chở rất nặng gồm đủ loại phí, kể cả bôi trơn.
Vài hôm sau nữa, cưa lại gãy !  Tư Huyên và đám thợ rừng yêu cầu chủ Thoan đổi hiệu cưa khác.  Được vài hôm lại gãy nữa.  Rồi Năm Đẩu lại bị cây rớt trúng chân bị thương, may mà còn mạng.  Cái việc “Nhứt phá sơn lâm” nầy thường nhiều rủi ro và thợ rừng cũng rất tin vào những chuyện huyền bí.  Mọi người bắt dầu thấy lo lắng.  Tại sao cưa gãy hoài, rồi thợ rừng lại bị thương nữa.
          Ông Huyên ơi !  Chắc hết đợt nầy, tụi tui nghỉ ông ơi !
          Sao vậy ?
          Ông thấy đó !  Toàn chuyện gì đâu không à, phải nghỉ thôi !
Huyên cũng không biết nói sao.  Anh ta cũng là một thợ rừng nên anh hiểu nỗi lo của những người thợ rừng nầy.  Khi có điều gì xảy ra, người làm rừng thường hay nghĩ đến chuyện xúi quẩy, động rừng, bị quở phạt…vì không biết lý do tại sao.  Huyên cũng vậy, nhưng lần nầy anh ta lại nghĩ khác.  Hình như có kẻ nào đó phá hoại !  Không có lý nào cưa lại gãy hoài.  Nhưng ai ?  Ai vào đây phá, và vì lý do gì ?  Từ vài tuần nay, có thấy bóng ai ngoài đám thợ rừng nầy đâu.
Chiều nay, lúc ra về, Tư Huyên lên tiếng :
           Đem đồ về lán hết đi !
          Sao vậy ?  Sáng lại mắc công vác vô.
Tư Huyên tính nói gì đó, nhưng nghĩ sao ông ta lại bảo :
          Ừ ! Thôi để lại đi !
Đi một đoạn, Tư Huyên lại nói :
          Bun ở lại với tao, cần chút.  Mấy người kia về lo cơm nước trước đi.
Khi mọi người đi khuất, Tư Huyên lủi vào một bụi rậm và kéo ra một cây súng săn cùng cây đèn pin lớn trước con mắt ngạc nhiên của Bun.
          Mình đi săn hả anh Tư ?
          Ừ, nhưng mà…
 Tư Huyên thì thầm vào tai Bun.  Chỉ thấy hắn gục gục đầu, rồi hai người quay trở lại lối bãi làm lúc nãy.   Lúc còn cách chỗ làm lúc chiều khoảng một trăm thước, hai người tiến tới thật chậm, núp sau những lùm cây một.  Lúc này trông hai người không khác gì hai chiến binh đang phục kích giặc giữa rừng.  Cuối cùng, hai người chọn một chỗ cách bãi làm khoảng ba chục thước, núp sau một thân cây lớn và chờ đợi.  Trời bắt đầu tối, những đàn muỗi vo ve trên đầu hai người, may mà y phục hai người khá dày nên không đến nỗi, nhưng hai tay vẫn xoa muỗi trên mặt không ngừng.
          Tối rồi, làm sao thấy được gì ?   –  Bun thì thầm.
          Chờ chút nữa.
Một lát, Bun lại kêu :
          Muỗi cắn quá !
Bỗng Tư Huyên bóp vai Bun:  Một ánh lửa nhấp nhoáng từ hướng bãi làm.
Bun nghe lành lạnh nơi xương sống dù nó cũng là dân gan lì.  Nó hầu như không dám thở mạnh.
Rồi bắt đầu tiếng kim loại siết nhau nghe càng rợn người giữa đêm đen tịch mịch.  Bun nổi da gà, nó nghĩ tới những chuyện quái đản núi rừng.  Nhưng Tư Huyên đã thì thầm, “Đúng rồi !  Mình tiến tới đi ! “.  Hai người một súng một rựa tiến tới gần và qua ánh lửa leo lét cả hai cùng khiếp đảm :  một thứ gì đó- có lẽ là người- đang ngồi trên một khúc cây, chỉ thấy mái tóc dài phủ xuống, từ đó phát ra tiếng kêu siết của kim loại nghe rợn người.
Tư Huyên vùng dậy và quát lên :
           Ê ! Làm gì đó ?
Ánh lửa bỗng tắt phụt kèo theo tiếng loảng xoảng.  Nhưng ánh sáng từ chiếc đèn pin Bun cầm đã quét tới cùng với tiếng súng của Tư Huyên.  Một tiếng thét rồi bóng người thấp thoáng mất hút vào đêm đen.
Tư Huyên và Danh tiến tới.  Qua ánh đèn pin, một dấu máu nhỏ trên khúc cây, đỏ tươi .
          Đuổi theo, nó bị thương rồi !
Hai người soi đèn lần theo dấu máu.  Nhưng, một tiếng gầm gừ vang lên, Tư Huyên hét lên một tiếng đau đớn, cây súng rơi xuống đất.  Bóng đen lại chồm qua Danh… cây đèn pin rơi xuống chiếu ánh sáng leo lét vào một gốc cây dầu…
Chỉ một phút sau, tất cả lại im lặng.  Bun đã nhặt được cây đèn lên, hắn ôm tay lên tiếng :
           Có sao không anh Tư ?
          Tao không sao !  Mẹ nó, con chó đó dữ quá chứ không thì mình bắt được nó rồi.  Thôi mình về , mai hãy tính.
Hai người về lán, mọi người vội băng bó tay cho Bun rồi hỏi chuyện, ai cũng thắc mắc về chuyện gì đã xảy ra.  Tư Huyên lên tiếng :
           Mấy hôm nay, tui nghi có người phá rồi .  Cưa gì mà gãy hoài, mỗi lần tui để ý thấy có dấu lưỡi cưa bị đục rồi mài lại, phải nhìn kỹ mới thấy.  Có điều là chẳng hề thấy ai vào vùng rừng nầy, kể cũng lạ thiệt.  Hôm qua, tui mới kêu thằng Thoan gởi lên cho cây súng săn.  Tui nhứt quyết bắt cho được kẻ phá hoại nầy.  Bởi vậy, lúc chiều về rồi tui mới kêu thằng Bun ở lại với tui.  Tui với nó mới lấy cây súng rồi quay lại gần chỗ để đồ núp rình.  Đúng như tui nghĩ thiệt mà !  Khi trời vừa tối, thì có ánh lửa rồi nghe tiếng động.  Tui với thằng Bun sấn tới thì thấy nó ngồi một đống, tóc phủ tới đất nhìn phát ghê !
          Ừ !  Tui thiệt cũng lạnh xương sống !  Một mình cho vàng tui cũng không dám tới .  Công nhận anh Tư gan thiệt !
          Tao cũng nhờ cây súng thôi.  Lúc tui la lên hỏi nó làm gì, mình tính bắt nó thôi.  Không ngờ nó tắt đèn, chạy nên tui phải nổ súng, tính hù cho nó đứng lại, không ngờ nó lại trúng đạn.  Tui tính theo dấu máu bắt nó, chẳng dè con chó đen ở đâu tấn công.  Con chó dữ dằn quá !  May chứ nó mà cắn nữa có nước chết !
Đám thợ rừng nghe xong câu chuyện có phần lạ lùng, kỳ bí nầy thì lắc đầu, chép miệng.  Ai cũng cảm thấy ngại khi phải tiếp tục công việc.  Tư Huyên lại tiếp :
           Sáng ra, mình phải theo dấu máu tìm cho ra coi thử nó là ai ?  Tại sao phá mình mới được ?
Buổi sáng, Bun phải ra đón xe về Thị xã để chích ngừa.  Mọi người còn lại thì theo Tư Huyên vô rừng tìm dấu vết kẻ lạ.  Tư Huyên vác súng, những người khác đều thủ dao, rựa, mọi người bắt đầu từ khúc cây đêm qua kẻ lạ đã ngồi đó.  Lần mò cả mấy cây số đường rừng, có lúc tưởng đã mất dấu, nhưng rồi lại tìm thấy dấu máu.  Mãi tới xế chiều, mọi người nghe tiếng nước chảy róc rách.  Một khoảng đất trống hiện ra cùng căn nhà sàn nhỏ bên bờ suối.
Mọi người dừng lại quan sát.  Kế bên nhà sàn là một giàn mướp xanh tươi, những bông mướp vàng mơn mởn trong nắng chiều.  Dọc theo suối, những gốc rạ nằm ủ rũ theo cảnh vật im lìm.  Dường như không có dấu hiệu của người trong lúc nầy.  Mọi người thận trọng tiến lại căn nhà sàn.  Dấu máu khô lại xuất hiện dẫn vào căn nhà.  Bỗng một tiếng gầm gừ nổi lên rồi một bóng đen phóng ra làm mọi người hốt hoảng.
           Đúng con chó đen nầy rồi !    –  Tư Huyên hừm mũi súng vào con vật đang nhe nanh sẵn sàng tấn công kẻ nào bước vào nhà.
          M…ực !   –  Một tiếng nói nhỏ- tiếng thều thào thì đúng hơn, phát ra từ căn nhà sàn.
Con vật lại phóng vào trong.  Mọi người lại vừa tiến lên vừa thủ thế .  Trong ánh chiều lờ mờ, một người đang nằm co ro trên cái sạp tre trong nhà.  Mái tóc dài xõa ra che phần nào khuôn mặt, nhưng mọi người cũng thấy đó là một ông lão.
Ông lão có vẻ mệt lắm, nhưng cặp mắt vẫn còn nhận thức.  Ông rên khe khẽ, trên đùi ông, máu đã đen đặc nơi vết thương.  Tay ông đặt lên chân con chó đen nằm phủ phục kế bên, miệng vẫn gầm gừ đám khách lạ.  Nhìn cảnh một ông già bị thương, nằm một mình trong rừng vắng, đám thợ rừng động lòng.  Rồi có người nói :
          Ông già nầy, tui nhớ có lần thấy ổng bán mật ong ngoài chợ.
          Ông có một mình à ?   –  Tư Huyên hỏi.
Ông già chớp mắt như gật đầu, bờ môi ông mấp máy :
          Đừng… phá… rừng…
Tuy tiếng nói ông rất nhỏ, nhưng mọi người vẫn nghe rõ tuy chưa hiểu tại sao ông lại nói vậy.
          Ta…chết…chôn… cạnh… ba… mộ…
Tiếng chim chiều lạc bạn rúc lên nghe buồn não nuột như lời than thở của rừng đêm.
Cánh rừng chỉ vài năm sau là trơ trụi những gốc cây nham nhở.  Cây lớn giá trị đã bị cưa đốn hết.  Rồi đến những cây tạp cũng được dân làm củi, đốt than chiếu cố.  Rừng xanh một thủơ nay còn đâu !
Bên triền suối, bốn ngôi mộ cỏ phủ xanh, những bia mộ sậm đen, xiêu vẹo.  Bên ngôi mộ thứ tư, vài cái xương động vật nằm vương vãi, dường như là xương của một con chó.
Suối Tre vẫn róc rách như bao giờ.

24 phản hồi

Filed under Truyện, Truyện dài

HẤT NỤ CƯỜI

nu cuoi

Khuyên em hất một nụ cười
Bùi ngùi chăng
Hỡi lòng người tri âm?
Lối thu thảo
Bước phong trần
Hẳn vương kiêu bạc
Khi ngần ngại yêu?

Hất nụ cười, hái phiêu lưu
Mai sau xóa hết những trừu tượng thơ
Hắt đắng cay phiá tình cờ
Đìu hiu hấp hối bên bờ nhân sinh.

Thì em hất nụ cười tình
Thời gian đứng lại
Thình lình…
Khai niên!

Tương Giang

 

19 phản hồi

Filed under Thơ, Tương Giang

ƯỚC VỌNG

ươm-mầm

-Cá Thu-

Chung cuộc rồi về với cõi không

Trần ai há dễ bận tơ lòng

Hoa sen phai sắc hương còn thắm

Trà mạn lưng chung vị vẫn nồng

Nợ với văn chương nên vắt óc

Vui cùng cảnh vật phải ra công

Những mong có bạn cùng thi phú

Dù cánh đào xưa đã nhạt hồng

35 phản hồi

Filed under Cá Thu, Thơ

Con chim gõ kiến

Truyện Cổ Phật Giáo 

Chim gõ kiến

Trong một khu rừng nọ, có một con chim gõ kiến thực hành từ bi tâm và Bồ Tát đạo.

Con chim gõ kiến này khác với mấy con chim khác, bẩm sinh nó thông minh sáng láng, lại lông cánh tuyệt đẹp. Khi nó bay, trông nó uy nghi trang trọng, thật là vua của loài chim rừng !

Trong rừng có những thân cây bị mọt ăn thủng lỗ, thì loài chim gõ kiến hay đi tìm bắt sâu mọt trong những lỗ thủng ấy ăn để mà sống. Nhưng con chim gõ kiến này nhân từ quá nên chỉ ăn các mầm chồi non mềm hay uống nước các thứ trái cây, chứ không nỡ mổ những con mọt nhỏ bé kia để mà nuôi thân. Ðồng thời, nó cũng mà một vị y sĩ rất thông minh, nó có thể trị bệnh cho loài chim và cho cả loài thú đi trên mặt đất nữa.

Có một lần, chim gõ kiến bay qua cánh rừng, gặp một con sử tử nằm dài bên vệ đường, lớn tiếng kêu rống, rên rỉ đau đớn. Chim gõ kiến ngừng xuống hỏi :

– Hỡi vua của loài thú ! Ai làm cho bạn đau đớn như thế ? Có phải là bị tên của thợ săn bắn trúng ? Hay mắc phải một chứng bệnh nguy ngập ? Hay là mới gây hấn với loài voi ? Hay tại đói quá nên đau đớn ? Xin bạn hãy nói cho tôi biết, không chừng tôi có thể giúp bạn được !

– Hỡi vua của loài chim ! Tôi không phải bệnh, cũng không phải gây hấn với voi, mà chỉ tại tôi mắc xương ngang cổ họng. Cái đau đớn cùng cực này, so với cái đau bị trúng tên cũng không thấm gì. Nó làm cho tôi không nuốt vào được, nhổ ra cũng không được, nếu bạn có thể giúp tôi thì xin bạn hãy ra tay làm phúc !

– Tôi có thể giúp bạn, miễn là bạn nghe lời tôi dặn bảo.

Sư tử gật đầu ưng thuận, chim gõ kiến bèn đi tìm một cành cây thật chắc chắn, bảo sử tử há miệng thật to, to đến mức không há nổi nữa mới thôi, rồi mới kê nhánh cây vào miệng sử tử. Xong đâu đó, chim mới bay vào miệng sư tử, khôn khéo làm cho hai đầu miếng xương nông ra một chút, rồi dùng hết sức lực ngậm xương trong mỏ kéo ra. Sau đó, nó từ từ xê dịch khúc cây ra khỏi miệng sư tử. Con chim gõ kiến hoàn thành sứ mạng trong lòng rất khoan khoái, lúc ấy mới cáo biệt sư tử mà bay đi.

Sư tử không còn đau đớn nữa, trong lòng cũng rất cảm khái, tạ ơn chim gõ kiến rồi cũng từ biệt mà quay về.

Một thời gian sau, chim gõ kiến kiếm không thấy thức ăn được nữa vì mấy ngày trước đó trời hạn hán, không có lấy một giọt mưa, chồi cây và hoa quả cháy sém khô cằn, chim gõ kiến kia đói quá ngày một tiêu mòn, chỉ mấy ngày nữa nếu cứ thế này mãi thì chắc là chết đói mất !

Toàn thân rã rời, nó mệt mỏi tìm kiếm cái gì ăn thì đột nhiên thấy dưới một gốc cây to, con sư tử mới cứu hôm nọ, đang mải miết ăn một con cừu béo mập săn được. Nó ngấu nghiến nhai nhai nuốt nuốt, không màng tới bất cứ chuyện gì khác.

Con chim gõ kiến bay xuống, khép nép đứng bên cạnh sư tử, nhìn nó bằng cặp mắt cầu khẩn như xin ăn mà không mở miệng nói một lời nào. Nhưng con sư tử vô tình vẫn nhồm nhoàm nhai nuốt miếng thịt cừu của mình, không thèm ngó ngàng gì tới con chim gõ kiến, giả vờ như không thấy.

– Chắc anh chàng này không nhận ra mình.

Chim gõ kiến nghĩ như thế, mới bèn tiến tới gần con sử tử, cầu cứu một cách khiêm tốn :

– Hôm nay tôi đến gặp bạn như một kẻ ăn mày, xin bạn cho tôi một chút gì ăn, tôi đói quá rồi bạn ạ. Nếu bạn thuận lòng thí xả một chút thức ăn cho một kẻ sắp chết đói, thì công đức của bạn rất lớn !

Con sư tử hung dữ gầm lên :

– Mi to gan thật, trong lúc ta đang dùng bữa thì mi táo bạo dám đến gần, ý mi muốn hiến thân làm thức ăn cho ta phải không ? Cái lúc mi bay vào miệng ta lấy miếng xương ra khỏi họng, là do vì ta cho phép mi làm, chẳng có gì đáng kể công hết ! Ta không có lòng nhân từ, mi có cút đi không!

Con chim gõ kiến không nói không rằng, lặng lẽ ôm nỗi thất vọng trong lòng, sửa soạn bay đi.

Thần cây thấy con sư tử vong ân bội nghĩa như thế, trong lòng hết sức bất bình, bèn hỏi chim gõ kiến :

– Tại sao bạn không mắng cho vào mặt của cái phường vong ân ấy ? Không lẽ bạn không đủ sức đối phó với hắn hay sao ? Bạn là ân nhân của hắn mà hắn lại đối xử vói bạn một cách hung dữ như thế, tại sao bạn không tới mổ vào hai con mắt của hắn, mà lại chấp nhận cho hắn tàn nhẫn ngược đãi bạn ?

– Ðừng nhắc tới hắn nữa. Xử phạt con sử tử vong ân bạc nghĩa ấy không phải là việc của tôi. Trong tương lai, hắn sẽ tự nhiên lãnh lấy hậu quả của sự vong ân bạc nghĩa ấy. Nếu có một ngày nào đó gặp nạn, sẽ không ai đến cứu hắn nữa. Nhưng tôi không bao giờ ân hận đã thi ân cho hắn. Nếu như tôi nghĩ đến sự báo đáp rồi mới thi ân, thì đó là một việc mua bán vay trả, chứ không phải là một hành động đạo đức cao cả.

Thần cây nghe chim gõ kiến nói như thế, cảm động mà khen ngợi rằng :

– Bạn thật là một người nhân từ, đạo đức cao thượng. Bạn không giống như một con chim, mà lại giống một con người khoác lên một bộ lông cánh tuyệt đẹp. Trí huệ phúc đức của bạn sẽ vĩnh viễn không bao giờ thiếu sót !

Thần cây tán thán xong cáo biệt mà đi. Con chim gõ kiến cũng rời bỏ con sử tử vong ân bạc nghĩa. Một vài ngày sau, con sư tử bị thợ săn bắn chết.

Không bao lâu, trời rưới xuống một trận mưa pháp cam lồ, làm cho khắp mặt trái đất được tưới nhuần tươi tốt, hoa nở, lá non, và con chim gõ kiến nhân từ kia được cả trái đất ca tụng và khen ngợi.

11 phản hồi

Filed under Sưu tầm